CHUC MUNG NGAY 20-11

Thân thế và sự nghiệp Danh nhân Phan Thúc Trực

Thứ ba - 18/09/2012 21:49 | Số lần đọc: 3042
Thân thế và sự nghiệp Danh nhân Phan Thúc Trực

Thân thế và sự nghiệp Danh nhân Phan Thúc Trực

 

PHAN DƯỠNG HẠO
TỨCPHAN THÚC TRỰC

(1808-1852)
Ðình Nguyên Thám Hoa

Phan Dưỡng Hạo sau đổi tên làPhan Thúc Trực, sinh 1808, mất 1852, người xã Vân Tụ, tổng Vân Tụ, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, cao tằng và tổ ông đều đậu hương cống (cử nhân) triều nhà Lê, nhưng đến đời cha ông làPhan (a)là người học hay chữ, nổi tiếng thông nho, nhưng nhà nghèo phải đi dạy học, mà lại gặp vào thời Lê mạt, cái thảm trạng chiến tranh cốt nhục tương tàn, nêu cụ không đi thi, chỉ dạy học trò và đã tác thành nhiều người đậu đạt ở vùng Nghệ An, trong đó có con ông làPhan Dưỡng Hạo.

Phan Dưỡng Hạo học rất thông minh, tính rất khoáng đạt mà lại cần cù chịu khó, theo truyền thuyết, có lần ông đi gặp giúp cho một nhà giàu, đương gặt khoảng gần trưa, vụ chiêm, bỗng nghe trống ngũ liên, ở xóm ông ở, bị cháy nhà, khói bốc lên nghi ngút, chủ ruộng bảo ông về, ông bảo nhà tôi có quái gì mà lo, nhưng tiếp đó có người chạy ra nói nhà ông bị cháy rồi, chủ ruộng giục ông về, về nhà thì cháy gần hết, hàng xóm chỉ kéo ra được một cái chõng tre và vài đồ lặt vặt, ông chẳng lo chữa, mà chỉ ngồi ung dung trên chõng, làm thơ nôm đường luật trong đó có câu:

Trống đánh vang lừng miền ấp lý, (trống ngũ liên báo cháy nhà)

Tàn bay phất phới cõi Ðông Nam...(b) ... (Tàn có nghĩa là tàn lửa cũng có nghĩa tàn che)

Về sau có người đoán với những câu khẩu khí này, sẽ làm lớn chứ không phảithường.

Từ đó, 15 tuổi, ông đã nổi tiếng cự phách trong văn học huyện nhà (lúc này gọi là huyện Ðông Thành phủ Diễn Châu), 16 tuổi ông đã đỗ đầu xứ trong kỳ khảo hạch "tiến ích" của tỉnh, theo tục trước cáckhoa hương vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, thì ở huyện phải sát hạch trước để chọn lấy độ 10-20 người, người đỗ đầu gọi là "đầu huyện", liên huyện lại mở tuyển chọn một lần nữa người đậu đầu gọi là "đầu xứ" sau khi duyệt thì các sĩ tử mới làm đơn kê khai lý lịch ba lý trưởng đóng triện, rồi giáo thụ (phụ trách việc ở huyện) hoặc huấn đạo mới nộp hồ sơ lên đốc tỉnh. Năm 17 tuổi ôngPhan Dưỡng Hạo thi đậu Túkhoa ất dậu (1825) tại trường thi Nghệ An tức thời Minh Mệnh thứ 6.

Thời gian sau đó ông đi dạy học, ông ra Thanh Hóa dạy học ở làng Nguyệt Viên, tổng từ Minh, huyện Hoằng Hóa, làng này có nhiều người học hay do đó cứ tối đến các cô gái trong làngthường tập trung ở lều vải, trong đó có một nhóm tập trung ở gần chỗ ông ngồi dạy học, các cô gái có tục vừa kéo vải vừa hát đáp với một số thanh niên trong làng,thường là những nhà nho hay chữ giúp đỡ tá gà cho mỗi bên. Nghe tin ông đồ tú Nghệ học hay chữ, các cô ra nêu câu đối để thử tài, các cô nêu:

Gái Nguyệt viên vừa độ trăng tròn, ai muốn lấy mưới lăm quan chẵn.

Một câu rất oái oăm: Nguyệt viên có nghĩa là trăng tròn, trăng tròn cũng có nghĩa là rằm tức là mười lăm.

Ông tú Nghệ đối ngay: Trai Vân Tụ đông như mây họp, kể đối thế thì cũng rất chỉnh, Nguyệt viên, trăng tròn, đối với Vân Tụ mây họp (Vân Tụ là quê ông), thế nhưng đến nửa sau: ai muốn lấy mười lăm quan chẵn (quan đây là quan tiền) thì ông tắc, không đọc đối tiếp được nữa, đành phải đáp = 15 quan đắt quá, không lấy nữa. Từ đó ông tức mình tự nói, mình còn dốt phải học nữa. Sau đó ông lại về quê tiếp tục học.

Một điều đặc biệt là liên tiếp 10khoa thi ông đều đỗ, và chỉ đỗ tú tài, gồm 5 chínhkhoa về đời Minh Mệnh, 3 chínhkhoa về đời Thiên Trị, 2 ânkhoa về đời Thiệu Trị nữa. Ði thi 10khoa liên tiếp đỗ tú tài nhưPhan Phúc Trực là một điều chưa từng có trong lịch sửkhoa cử từ xưa tới nay, cho nên nhân dân mới gọi ông là "thầy tú mười", văn thân hàng huyện (Yên Thành) có tặng ông đôi câu đối:

"Nhất cử thành danh thiên hạ hữu
Thậpkhoa liên trúng thế gian vô"

Tạm dịch:

Một khóa thành danh thiên hạ: có
Mười khóa liền trúng thế gian: không.

Theo thể lệ cũ đậu cử nhân mới được đi thi hội ở kinh đô, nhưng bản thân ông 10khoa tú tài liên tiếp cũng được xem như cử nhân và được nhân làm Quốc tử Giám giám sinh.

Ðếnkhoa hội và đình thứ năm Ðinh Mùi (1847) là năm thứ 7 niên hiệu Thiệu Trị, từ khi Hội thi cho đến lúc vào Ðình thi văn sách ông làm đều đứng đầu trường bài nào cũng được phê "ưu" hay là phê "bình", không một bài nào bị các quan trường phế "thứ", kết quảkhoa ấyPhan Dưỡng Hạo đã đỗ đầu: Ðình nguyên Thái hoa. Năm ấy ông 40 tuổi, và từ đây người ta gọi ông là quan Thám Mười. Quan Thám Mười theo lệ xưa về quê hương làm lễ vinh quy bái tổ và được vua ban cho tấm biển có ba chữ đề: "Khôi đa sĩ", chữ lấy trong sác Tam tự kinh "Ðối đại đình, khôi đa sĩ" nghĩa là vào .... chốn đại đình được đỗ đầu, áp đảo nhiều thân sĩ trong nước.

Tuy đậu Thám hoa, nhưng qua đời sống nghèo nàn ở quê hương, ông vẫn quan tâm đến đời sống dân làng (làng Phú Ninh, xã Vân Tụ), hồi ấy cánh đồng làngthường bị nước mặn dải sông Cẩm Giàng (ngọn sông Bùng) tràn vào mỗi lần thủy triều nước lên, làm cho cánh đồng bị bỏ hoang, cỏ năm cỏ lác mọc đày ruộng, ông bèn cùng dân làng khai hoang hóa, tháo nước mặn chảy ra sông Cẩm Giàng, và đắp đê giữ nước ngọt từ phía bàu Liên Trì, Mậu Long chảy xuống và chứa nước mưa dùng để cấy lúa, cánh đồng trở nên phì nhiêu, dân làng trở nên no đủ. Dân làng nhớ công ơn cho nên lúc ông mất, dân làng dựng đền thờ phụng mãi đến sau này.

Sau khi đỗ Thám Hoa sang năm sau là năm Tự Ðức nguyên niên,Phan Phúc Trực được bổ sung làm Hàn lâm viện trước tác (Chánh lục phẩm) tiếp đó được bổ vào Tòa nội các (tức Tòa vănthư của nhà vua) rồi được thăng tập hiền viện thị giảng" (tông ngũ phẩm hàn lâm) và được sung chức "Kinh thiên khởi cư chú" là chức quan gần gũi nhà vua luôn luôn. Trong thời gian này,Phan Thám Hoa ứng chế nhiều bài thơ văn từng được vua Tự Ðức nhiều lần khen ngợi và tặngthưởng.

Ðến năm thứ tư nhiên hiệu Tự Ðức (1851)Phan Thám Hoa vâng chiếu chỉ nhà vua ra Bắc Thành sưu tầm những sách vở cũ.

Qua năm sau (1852) sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, ông trở về kinh đô, nhưng khi đi đến Thanh Hóa thì lâm trọng bệnh, rồi tạ thế trên đường đi, hưởng thọ 45 tuổi.

Nghe tin ông mất vua Tự Ðức vô cùngthương tiếc cho một vị nhân thần có tài đức mà bất hạnh. Nhà vua phái quan Tổng đốc tỉnh Nghệ An mang phẩm vật tới tang quyến truy điệu với bốn chữ "Học cao hạnh thuần" nghĩa là học vấn đã cao thâm mà đức hạnh lại thuần hậu.

Một vị túc nho ở trong huyện Yên Thành đã khóc ông với một đôi câu đối rất ai oán:

"Bảng vàng bia đã ngàn thu,thương tiếc thay, Người ấy!
Ðầu bạc răng long trăm nỗi, đau xót lắm, trời ơi!

Phan Phúc Trực có 2 người con trai làPhan Vĩnh đậu cử nhân vàPhan Ðịnh đậu tú tài dưới triều vua Tự Ðức.

Tác phẩm củaPhan Thúc Trực có: Quốc sử di biết Trần Lê ngoại truyện, Diễn châu phủ chí. Cẩm đình hiệu tần thi tập, Bắc hành nhật lan phổ thi tập.

Ðặc biệt là quyển Quốc sử di biên là một quyển đượcPhan Thám Hoa sưu tầm suốt thời gian ở Bắc Bộ, kết hợp với những năm ở cạnh nhà vua nên nhiều tư liệu rất có giá trị gồm đủ các mặt chính trị ngoại giao, đời sống nhân dân, quan lại kể cả nội tộc cung đình nhà vua, sách gồm 3 tập, tập "Thượng" nói về Gia Long dày 94 tờ mỗi tờ 18 hàng mỗi hàng trung bình 20 chữ, tập "Trung" nói về vua Minh Mệnh dày 212 tờ, tập "Hạ" nói về Thiệu Trị dày 52 tờ. Trong có tập các tập có nhiều tư liệu sưu tầm mà trong các chính không nói đến hoặc chỉ nói qua. Ví dụ: nói lúc vua Gia Long đuổi Nguyễn Quang Toản và Nguyễn Quang Thiệu về mạn phủ Lang Giang trong rừng huyện Yên Lãng và huyện Lục Ngạn thì bắt được. Sau đó bọn Tổ Thám lại bắt dâng nạp bà Lê Thị Ngọc Bình vào nội cung nhà vua (trang 74). Về sau bà này lấy vua (Lê.... Ngọc Bình là em Ngọc Hân công chúa) sinh được Quảng Oai Công (con thứ 12) vàThường Tín công (con thứ 14) Bà Ngọc Bình là đệ tam cung của vua Gia Long (trang 190)

Hoặc có đoạn nói về Hồ Xuân Hương lấy làm tiện thiếp của quan Tham hiệp trấn Yên Quảng vì tội hống hách lấy của dân nên bị khép vào án tử hình. Bà Xuân Hương vốn hay văn chương và chánh sự nên người đương thời khen là nữ tài tử. Quan Tham hiệpthường sai Xuân Hương can dự vào những việc bên ngoài, nên Thủ dung vốn ghét.

Qua tư liệu nói trên thì ta thấy Xuân Hương lấy đến 3 đời chồng: Tổng Cóc, ông Phủ Tường, quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng nhưng ông này bị xử tử vào năm 1819, sau đó bà đi du ngoạn ngâm vịnh rồi cũng không biết tin tức gì về nữ thi sĩ họ Hồ nữa (trang 281).

Ðây là một tập Quốc sử mang tính chất di biên ký sự nên có nhiều sự việc rất sâu sát giúp ta tìm hiểu thêm về chính sử(a)

Rất tiếcPhan Phúc Trực chết sớm, thời gian làm việc chưa đầy năm năm, nên cái tài hoa với đức tính thuần trực chưa phát huy hết sự mong muốn cống hiến của người và cũng là thiệt thòi chung cho đất nước.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

THÔNG BÁO

Thong tin tuyen sinh

ỨNG DỤNG MỞ RỘNG

QUAN TÂM NHIỀU NHẤT

TÌM KIẾM

LIÊN KẾT WEBSITE

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 69


Hôm nayHôm nay : 1963

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 44605

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1810105

ĐĂNG KÝ